Chủ Nhật, Tháng Năm 19, 2024
29 C
Hanoi

Việt Nam Văn Phạm – Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm

ISBN
Tác giảTrần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm
Dịch giả
Số trang235 trang
Kích thước
Trọng lượng
Nhà xuất bảnLê Thăng
Năm xuất bản1940
Nhà phát hànhLê Thăng
Mua trực tuyến
Giá trên bìa sách
Định dạng lưu trữPDF
Tài trợ bản quyềnHết hạn bảo hộ bản quyền
Mã lưu trữ tài liệu006

Lưu ý: Chúng tôi chỉ chia sẻ tài liệu trong trường hợp cuốn sách/tài liệu đã hết thời gian bảo hộ bản quyền; hoặc bạn không thể mua chúng trên các trang thương mại điện tử và cam kết chỉ sử dụng tài liệu cho mục đích học tập. Để nhận sách, vui lòng liên hệ với tôi qua Facebook Chat.

Mục lục

Tựa
Chương 1: Khái luận
– Chữ viết
– Âm
– Tiếng nói
Chương 2: Phép đặt câu
– Mệnh đề
– Câu
– Các thứ mệnh đề
– Các thứ câu
– Dấu chấm câu
Chương 3: Danh tự
– Danh tự chung
– Danh tự riêng
– Cách viết những tiếng danh tự
Chương 4: Mạo tự
Chương 5: Loại tự
– Tiếng loại tự chung: con
– Tiếng loại tự chung: cái
– Tiếng loại tự riêng của từng loài
– Vị trí tiếng loại tự
– Giống đực giống cái và số nhiều số ít
Chương 6: Chỉ định tự
– Chỉ thị chỉ định tự
– Số mục chỉ định tự
– Nghi vấn chỉ định tự
– Phiếm chỉ chỉ định tự
Chương 7: Đại danh tự
– Nhân vật đại danh tự
– Chỉ định đại danh tự
Chương 8: Tĩnh tự
– Tính tự đơn
– Tính tự ghép
– Đẳng cấp cái nghĩa tiếng tĩnh tự
– Công dụng những tiếng tĩnh tự ở trong mệnh đề
– Vị trí tiếng tĩnh tự
Chương 9: Động tự
– Động từ đơn
– Động từ ghép
– Chủ từ và túc từ của tiếng động từ
– Tiếng động tự biểu diễn một sự thụ động có nghĩa được phần lợi hay phải phần thiệt
– Cách làm nhẹ bớt cái nghĩa tiếng động tự
– Cách biểu diễn cái nghĩa nói làm nhiều lần
– Động tự biến làm tiếng khác
– Cách biểu diễn các thì
Chương 10: Trạng tự
– Trạng tự chỉ thể cách
– Trạng tự chỉ lượng số
– Trạng tự chỉ các cục diện tiếng động từ
– Trạng từ chỉ thời gian
– Trạng từ chỉ nơi chốn
– Trạng từ chỉ sự nghi vấn
– Trạng từ chỉ ý kiến
Chương 11: Giới tự
– Giới tự chỉ nơi chốn
Chương 12: Liên tự
– Tập hợp liên tự
– Phụ thuộc liên tự
Chương 13: Tán thán tự
– Vị trí tiếng tán thán tự
Chương 14: Trợ ngữ tự
Chương 15: Tiếng đệm
– Tiếng đệm đặt trước tiếng chính
– Tiếng đệm đặt sau tiếng chính
– Tiếng đệm đặt thêm vào tiếng trạng tự ghép
– Phàm lệ sự lập thành các tiếng đệm
Chương 16: Tự loại phân tích
– Mệnh đề phân tích
Chương 17: Mỹ từ pháp
Chương 18: Các thứ văn
– Quy tắc của văn vần
– Văn đặc biệt của việt văn
– Văn bắt chước lối hán văn
Hán việt hợp dụng thể
Biểu chỉ dẫn các tiếng theo ABC

Lời giới thiệu

Người Việt Nam từ xưa đến vài ba mươi năm về trước đây có một thứ tiếng dùng để nói và một thứ chữ dùng để viết.

Thứ chữ ấy để riêng cho những người đi học, tập viết, tập đọc, tập làm văn, thơ, hoặc thư từ, v.v. gọi là chữ nho, nghĩa là một thứ chữ dùng để học đạo nho và để xem sách vở của thánh hiền đời trước. Vì chữ nho phổ thông khắp cả Á Đông, nhất là những nước theo văn hoá của nho giáo như: Tàu, Cao ly, Nhật BảnViệt Nam, cho nên người Việt Nam tuy không nói được tiếng những nước ấy, nhưng vẫn xem được các sách vở viết bằng chữ nho.

Chữ nho phát ra ở nước Tàu thật, nhưng người Việt Nam hay người Nhật Bản không đọc như người Tàu. Vả người đi học ngày xưa cũng chỉ biết là học chữ mà thôi, không ai nghĩ đến cái ý nói học chữ Tàu, như những người theo tân học thường nói bây giờ. Hai tiếng “chữ Tàu” là do cái nghĩa hai tiếng “caractères chinois” mà dịch ra, chứ thật không đúng cái tư tưởng của người đi học ngày xưa.

Vậy chữ nho là thứ chữ để dạy người đi học, tập làm văn, làm thơ; học lâu, tập nhiều thì mới viết được.

Còn thứ tiếng dùng để nói, thì người xứ nào nói tiếng xứ ấy. Ngay như ở nước Tàu, mỗi xứ có một thứ tiếng nói của bản xứ: người Vân Nam có tiếng Vân Nam, người Quảng Đông có tiếng Quảng Đông, người Bắc Kinh có tiếng Bắc Kinh, v.v. cũng như người Việt Nam có tiếng Việt Nam, gọi là tiếng nôm.

Tiếng Việt Nam cũng như tiếng nói của các nước ở Á Đông chỉ dùng để nói mà thôi, chứ không có chữ viết. Khi người Việt Nam học chữ nho đã giỏi mà có muốn làm văn bằng tiếng nôm, thì lại mượn chữ nho, rồi lấy âm và lấy ý mà đặt ra một thứ chữ, gọi là chữ nôm. Vậy người nào biết chữ nôm là người đã biết ít nhiều chữ nho.

Mới đây độ hơn một nửa thế kỷ nay… người ta mới dùng chữ quốc ngữ để dịch tiếng Pháp ra tiếng nôm cho tiện sự cai trị và sự giao thông ở bản xứ.

Chữ quốc ngữ là một thứ chữ dùng 25 chữ cái la–tinh của các giáo sĩ đạo Thiên chúa đã đặt ra, vào quãng thế kỷ thứ XVII và XVIII, để dùng về việc truyền bá tôn giáo cho tiện, về sau người ta dùng chữ quốc ngữ để dịch các công văn và những bài dạy học trò học tiếng Pháp ở các trường PhápViệt. Lâu dần sự học chữ nho kém đi và sự học chữ quốc ngữ thịnh hành lên. Sự học quốc ngữ mà chóng thịnh như thế, là bởi cái tư tưởng của người Tây cho là người nước nào phải học tiếng riêng của nước ấy; người Việt Nam cũng theo cái tư tưởng ấy mà học chữ quốc ngữ. Quốc ngữ nghĩa là tiếng nói của người trong nước.

Chữ quốc ngữ rất tiện lợi là nhờ có năm cái dấu giọng có thể phiên dịch đúng hết thảy các âm. Chỉ hiềm vì các âm tuy đúng, song khi gặp những tiếng đồng âm thì viết giống nhau cả, thành ra người nào không biết chữ nho, không làm thế nào mà phân biệt những nghĩa khác nhau trong những tiếng ấy. Song đó chỉ là một điều bất tiện trong những điều tiện lợi khác, điều trọng yếu hơn cả là khiến cho người Việt Nam có thể học và tập tiếng nôm, tức là tiếng nói của người trong nước.

Tiếng nói của người Việt Nam thì từ Bắc chí Nam chỉ có một thứ tiếng mà thôi. Duy có cái giọng nói, thì mỗi xứ có một giọng nặng nhẹ khác nhau, như người Bắc kỳ nói một giọng, người Nghệ Tĩnh nói một giọng, người Huế, người Quảng, người Nam kỳ đều có một giọng nói khác cả. Mấy người ở những xứ ấy ngồi nói chuyện với nhau, người ta chỉ nghe giọng nói, có thể biết ngay là người nào ở xứ nào.

Trừ cái giọng nói ra, lại còn có một ít tiếng thổ âm, thường dùng quen ở xứ này mà không hay dùng ở xứ kia. Vì thế người ngoại quốc không biết tiếng Việt Nam, tưởng lầm là người những xứ ấy nói mấy thứ tiếng khác nhau, kỳ thực người Việt Nam chung cả nước cùng nói một thứ tiếng.

Tiếng nói của người Việt Nam tuy có cái tính cách duy nhất ấy, nhưng vì xưa kia không dùng để học tập ở các học đường, cứ để ai nói quen thế nào thì cứ thế mà nói, miễn là người ta nghe được thì thôi. Bởi thế cho nên không có sách vở làm ra để dạy riêng về cách học tiếng nói.

Tiếng Việt Nam xưa kia tuy không có sách dạy về văn phạm, nhưng các qui tắc để nói thế nào là phải, thế nào là sai, thì bản nhiên vẫn có. Nay đem những qui tắc ấy mà phát biểu ra cho minh bạch, tức là định ra văn phạm của tiếng Việt Nam.

ít lâu nay đã có người Pháp biết tiếng Việt Nam và người Nam cũng đã nghĩ đến sự làm sách văn phạm, nhưng vì hoặc làm sơ lược quá, hoặc quá thiên về cách làm văn phạm tiếng Pháp, thành thử những sách ấy vẫn còn có nhiều chỗ khiếm khuyết.

Nay nhân ở hội Khai trí tiến đức có ban văn học, gồm có những người cựu học và tân học đang làm bộ Việt Nam tự điển và các bộ sách khác, mới nghĩ ra làm quyển Việt Nam văn phạm. Ban văn học giao cho chúng tôi làm bộ sách ấy. Chúng tôi biết việc ấy là việc rất khó, nhưng là việc rất cần phải có, thì tiếng Việt Nam sau này mới có cơ sở mà mở mang ra được. Chúng tôi không quản sự khó khăn, đem cái biết nhỏ mọn mà bàn với mấy người đồng chí, như ông Bùi Kỷ, phó bảng, ông Dương Bá Trạc, cử nhân, là những người cựu học, biết sành quốc âm, và ông Phạm Duy Khiêm, văn phạm học, giáo sư, ông Nguyễn Mạnh Tường, văn chương học bác sĩ, ông Nguyễn Khắc Kham, văn chương học cử nhân, là những người tân học có tiếng, để định cái phương pháp làm quyển sách văn phạm này. Chúng tôi đem bao nhiêu những điều cốt yếu trong tiếng nói của quốc âm, phát biểu ra rõ ràng và mỗi một điều diễn giải xong, lại lấy những tiếng người ta thường nói, thường dùng, hoặc những câu văn câu thơ ở trong các truyện, đem ra làm thí dụ, để làm chứng cứ chắc chắn.

Có một điều rất khó, trong việc làm này là nguyên tiếng Việt Nam không có lối phân tự loại. Thường người ta chỉ theo lối học chữ nho, lấy tiếng nặng, tiếng nhẹ mà phân ra làm bốn thứ, là: thực tự, hư tự, bán thực tự, bán hư tự, nghĩa là tiếng nặng, tiếng nhẹ, tiếng hơi nặng, tiếng hơi nhẹ. Ví như những tiếng mà bây giờ ta gọi là danh tự, thì chữ nho gọi là thực tự; những tiếng ta gọi là trạng tự, giới tự, liên tự, thì gọi là hư tự; những tiếng ta gọi là tĩnh tự, động tự, thì gọi là bán hư tự; những tiếng ta gọi là tiếng đệm hay là tiếng trợ ngữ tự thì gọi là bán hư tự.

Cách phân tự loại như thế, chỉ cốt để làm thơ làm phú mà tìm chữ đối nhau cho cân mà thôi, chứ không thể dùng để phân tích được các tiếng lập thành câu nói hay câu văn.

Chúng tôi thiết nghĩ rằng đã học một tiếng nói, thì phải biết rõ cái giá trị và cái công dụng của từng tiếng ở trong câu nói. Muốn hiểu rõ như thế, tất phải theo cái phương pháp của tây học, chia các tiếng ra thành từng loại, rồi mỗi loại xét riêng một mục, như lối văn phạm của tây, để phân biệt cái tính cách và cách dùng các thứ tiếng ấy.

Tiếng Việt Nam là tiếng đan âm, không biến hình biến dạng, có khi một tiếng biến ra nhiều nghĩa, có khi một tiếng biến ra thứ tiếng khác. Chúng tôi lấy cái nghĩa và cách dùng của nó mà định ra từng loại. Cũng có khi người ta lấy một tiếng đệm đặt thêm ở đằng trước hay ở đằng sau tiếng khác, để biểu diễn cái nghĩa hơi khác nghĩa chính. Những sự biến đổi như thế đều có lề lối nhất định, chúng tôi cố đem giải diễn ra rõ ràng để học giả nhận biết cho dễ.

Có người nói rằng: Tiếng Việt Nam có cái tính cách và cái tinh thần không giống như tiếng các nước bên Tây. Nếu theo phương pháp văn phạm của Tây mà làm văn phạm Việt Nam thì sợ không đúng. Chúng tôi vẫn biết mỗi một tiếng nói là có một cái tinh thần đặc biệt. Song tiếng nói là cách biểu diễn cái tư tưởng của người ta ra cho người khác biết. Cách biểu diễn ấy tuy khác, nhưng bao giờ cũng phải theo cái lý cho thuận. Đã theo lý, thì dù đông dù tây, đâu đâu cùng một lý cả. Vậy theo phương pháp của Tây mà phân ra các tự loại, tưởng không phải là sự sai lầm, miễn là ta giữ được cái tinh thần của tiếng ta mà đem phô diễn ra cho rõ ràng là được.

Dẫu thế nào mặc lòng, chúng tôi tưởng sự cần cấp bây giờ là hãy làm thành quyển Việt Nam văn phạm, rồi sau thấy đâu có sự sai lầm hay khiếm khuyết, ta sẽ sửa đổi lại. Đến như sách văn phạm của Pháp ngữ đã có từ mấy trăm năm nay mà đến bây giờ còn phải làm đi làm lại mãi chưa xong, huống chi văn phạm của ta mới là bước đầu trong sự học tiếng nước nhà.

Chúng tôi nghĩ như thế, cho nên quả quyết làm sách văn phạm này. Cái lối của chúng tôi làm là mỗi khi thảo xong một mục nào, đem bàn với ông Phạm Duy Khiêm về cách xếp đặt cho có phương pháp, ông Khiêm cũng hết lòng giúp sức cùng với chúng tôi, chữa đi chữa lại năm bẩy lần rồi mới đem trình tiểu ban Văn học chuẩn y. Khi bản thảo bằng quốc ngữ đã làm xong, chúng tôi lại nhờ ông Khiêm cùng với chúng tôi dịch ra tiếng Pháp để cho người Pháp hay người Nam theo tây học, có thể tế nhận được cái tinh thần và cái quy tắc của tiếng Việt Nam, có nhiều chỗ tinh vi đủ biểu diễn được sự vận động cái tư tưởng của người ta.

Ông Phạm Duy Khiêm đang dịch với chúng tôi quyển Văn phạm này gần xong, thì ở bên Âu châu xẩy ra việc chiến tranh, ông xin đi đầu quân, thành ra sự dịch ấy có nhiều sự khó khăn mà chúng tôi phải cố làm cho trọn việc.

Sách văn phạm này chia ra làm 18 chương, xét đủ các thứ tự loại, cách đặt câu, cách dùng tiếng làm văn và cách làm thơ làm phú.

Chúng tôi không dám chắc rằng sách này đã là hoàn toàn, không có chỗ khiếm khuyết và sai lầm. Điều đó xin để độc giả xét cho. Chúng tôi chỉ xin độc giả lượng tất cho ít nhiều vì nỗi chúng tôi muốn vỡ cánh đồng bỏ hoang mà mở ra một con đường mới. Mong rằng các nhà thức giả cùng với chúng tôi đi vào con đường ấy, rồi chỉ bảo giúp chúng tôi mà sửa đổi những điều lầm lỗi. Nếu mọi người biết cho chúng tôi vì chút lòng nhiệt thành muốn nâng cao cái địa vị tiếng nước nhà lên tới chỗ xứng đáng, được như thế thì chúng tôi đã là mãn nguyện lắm vậy.

TRẦN TRỌNG KIM

Viễn Zu
Viễn Zuhttps://vienzu.com/
Viễn Zu không phải là tên thật của tôi, không phải tôi có điều gì giấu giếm mà chỉ là do tôi muốn người đọc tập trung vào nội dung của các bài viết.

Bài Liên Quan

Bình luận