Thứ Năm, Tháng Bảy 25, 2024
28 C
Hanoi

Tìm hiểu về màu sắc và 6 phương pháp phối màu căn bản

Tìm hiểu màu sắc là gì? Nguyên lý về màu sắc, những thuộc tính của màu sắc, mối liên hệ giữa màu sắc và cảm xúc và những phương pháp phối màu căn bản.

Sau khi dành nhiều năm để học xây dựng trang thông tin điện tử (website) và học kể truyện, viết học thuật; tôi nhận thấy mình cần phải học về kỹ thuật tạo hình để có thể chủ động trong tất cả các khâu trong việc xây dựng và quản trị trang thông tin điện tử của mình. Với phương châm vừa học và viết để lưu giữ lại những kiến thức mình đã học được, tôi quyết định viết về chủ đề màu sắc sau khi xem đoạn phim “CÁCH PHỐI MÀU ĐẸP” của Thanh Pahm.

Màu sắc là gì?

Con người và các loài động vật nhận biết được màu sắc của các vật thể do các vật thể ấy phản chiếu lại một số loại ánh sáng đến mắt của chúng ta. Một vật thể hấp thụ và phản chiếu loại ánh sáng nào hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất vật lý của vật thể ấy.

Cơ chế hoạt động của màu sắc
Cơ chế hoạt động của màu sắc

Tóm lại, nói một cách đơn giản, vật thể phản chiếu loại ánh sáng nào đến mắt chúng ta thì chúng ta nhìn thấy vật thể ấy có màu sắc tương ứng:

MàuKhoảng bước sóngKhoảng tần số
Đỏ~ 700–635 nm~ 430–480 THz
Da cam~ 635–590 nm~ 480–510 THz
Vàng~ 590–560 nm~ 510–540 THz
Lục~ 560–520 nm~ 540–580 THz
Xanh lơ~ 520–490 nm~ 580–610 THz
Lam~ 490–450 nm~ 610–670 THz
Tím~ 450–400 nm~ 670–750 THz

Nguyên lý màu sắc

Nguyên lý về màu sắc tập trung vào việc tìm ra những màu cơ bản có thể được dùng để hòa trộn với nhau để tạo ra những loại màu sắc khác. Trên thực tế, cảm nhận của con người và các loài động vật về màu sắc được quyết định bởi nguồn sáng, khả năng hấp thụ – phản xạ ánh sáng của vật thểmắt; và bất kỳ sự thay đổi của ba yếu tố trên đều làm thay đổi cảm nhận của con người và động vật về màu sắc.

Các tài liệu giáo dục nghệ thuật, nơi nghệ sĩ sử dụng màu sắc để kiến tạo cái đẹp, người ta thường sử dụng màu đỏ, màu vàng màu xanh da trời làm màu cơ bản. Nhưng trong vật lý, nơi các nhà khoa học nghiên cứu để hiểu rõ chính xác những đặc điểm vật lý của màu sắc, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng ba màu cơ bản là màu đỏ, màu xanh lá cây màu xanh da trời. Tuy nhiên, không có bộ chất hoặc ánh sáng tạo màu nào có thể hòa trộn ra tất cả các màu còn lại.

Mô hình hòa trộn màu RGB và CMYK
Mô hình hòa trộn màu RGB và CMYK

Hòa trộn cộng màu RGB

Mô hình hòa trộn theo phương pháp cộng màu là nền tảng của mọi màu sắc vì bắt nguồn từ nguyên lý cảm nhận màu của mắt người và động vật. Trong mắt người, võng mạc trong đáy mắt có những tế bào hình nón nhạy cảm với các màu đỏ (red), xanh lá cây (green) và xanh da trời (blue); và các tế bào hình que nhạy cảm với mức độ sáng tối của màu sắc. Các tế bào này truyền tín hiệu riêng lẻ đến não bộ, ở đó hình ảnh được tổng hợp thành tất cả màu sắc.

Nguời ta gọi mô hình cộng màu là mô hình RGB. Trong mô hình hòa trộn màu RGB không có màu đen vì vậy người ta luôn hình tạo ra khi sử dụng mô hình hòa trộn cộng màu RGB trên tấm nền màu đen. Nhược điểm của mô hình hòa trộn cộng màu RGB là hình mới tạo ra luôn có độ sáng cao hơn so với màu gốc và màu trắng được tạo ra khi hòa trộn ba màu đỏ, xanh lá cây và xanh da trời. Nguyên lý này được ứng dụng trong công nghệ chế tạo màn hình tivi, màn hình máy vi tính, kỹ thuật video, chiếu sáng…

Hòa trộn trừ màu CMYK

Mô hình CMYK hoạt động bằng cách che một phần hoặc toàn bộ màu sắc trên nền sáng hơn, thường là màu trắng. Mực hay màu được thêm vào sẽ lọc/cho phép loại ánh sáng nào được phản xạ. Mô hình như vậy được gọi là trừ màu vì bản chất của phương pháp này là “loại bỏ” các màu khỏi ánh sáng trắng; bạn có thể tạo ra màu đỏ bằng cách loại bỏ màu xanh lơ (Cyan) khỏi ánh sáng trắng, tạo ra màu xanh lá bằng cách loại bỏ màu đỏ cánh sen khỏi ánh sáng trắng và tạo ra màu xanh da trời bằng cách loại màu vàng khỏi ánh sáng trắng.

Từ CMYK (hay đôi khi là YMCK) là từ viết tắt trong tiếng Anh để chỉ mô hình hòa trộn màu theo phương pháp loại trừ một màu nào đó. Nguyên lý làm việc của CMYK dựa trên nguyên lý hấp thụ ánh sáng: màu mà chúng ta nhìn thấy là màu của ánh sáng không bị hấp thụ. Mô hình trộn trừ màu này dựa trên cơ sở trộn các chất màu của các màu sau:

  • C = Cyan trong tiếng Anh có nghĩa là màu xanh lơ hay cánh chả.
  • M = Magenta trong tiếng Anh có nghĩa là màu đỏ cánh sen hay hồng sẫm.
  • Y = Yellow trong tiếng Anh có nghĩa là màu vàng.
  • K = Key (trong tiếng Anh nên hiểu theo nghĩa là cái gì đó then chốt hay chủ yếu để ám chỉ màu đen mặc dù màu này có tên tiếng Anh là black do chữ B đã được sử dụng để chỉ màu xanh lam (blue) trong mô hình màu RGB.

Trong mô hình CMYK; màu trắng là màu tự nhiên của giấy và màu đen là sự hòa trộn của 3 màu xanh lơ, đỏ cánh sen và vàng; màu mới tạo ra luôn đậm hơn màu gốc và màu đen là tổng hợp của ba màu vàng, hồng cánh sen và xanh lơ. Bằng việc tạo ra màu đen một cách chủ động, mô hình hòa trộn màu CMYK rất phù hợp với công nghệ in ấn và tạo ra sản phẩm có chất lượng, độ tương phản cao hơn.

Tuy nhiên màu của vật thể mà người ta nhìn thấy trên màn hình máy tính thông thường có sự sai khác chút ít với màu của nó khi in ra vì các mô hình màu CMYK và RGB (sử dụng trong màn hình máy tính) có các gam màu khác nhau. Bởi vì Mô hình màu RGB là mô hình dựa trên cơ sở phát xạ ánh sáng (bổ sung màu) trong khi mô hình CMYK làm việc theo cơ chế hấp thụ ánh sáng (loại trừ màu).

Hòa trộn màu trong hội họa

Trong hội họa, các họa sĩ thường trộn màu theo hệ Đỏ – Vàng – Xanh Da Trời; phương pháp hòa trộn màu này là một biến thể của phương pháp trừ màu. Khi hòa trộn hai màu liền kề chúng ta sẽ có được lần lượt các màu xanh lá cây, màu tím và màu cam; 3 màu này được gọi là màu bậc hai (Secondary colors). Tiếp tục hòa trộn các màu bậc 2 với màu bậc 1 liền kề như dưới hình chúng ta sẽ có được màu bậc 3 (Intermediate color). Bằng cách liên tục hòa trộn hai màu liền kề trong bánh xe màu sắc, chúng ta sẽ có được vô số màu sắc mới.

Bánh Xe Màu Sắc (Color Wheel)
Bánh Xe Màu Sắc (Color Wheel)

Thuộc tính của màu

Năm 1931, bằng cách sử dụng các phép đo tâm sinh lý, Ủy ban Chiếu sáng Quốc tế (CIE) đã tạo ra không gian màu XYZ mô phỏng thành công tầm nhìn màu sắc của con người ở cấp độ cảm giác cơ bản. Tuy nhiên, mô hình màu XYZ giả định trước các điều kiện quan sát cụ thể (vị trí kích thích võng mạc, mức độ chói của ánh sáng gặp mắt, nền phía sau vật thể được quan sát và mức độ chói của ánh sáng xung quanh).

Chỉ khi tất cả các điều kiện này không đổi thì hai kích thích giống hệt nhau với các giá trị ba kích thích XYZ giống hệt nhau sẽ tạo ra diện mạo màu sắc giống hệt nhau cho người quan sát. Trong một số trường hợp, nếu thay đổi một số điều kiện, hai kích thích giống hệt nhau với các ba giá trị kích thích XYZ giống hệt nhau sẽ tạo ra sự xuất hiện màu sắc khác nhau (và ngược lại: hai kích thích khác nhau với các giá trị ba kích thích XYZ khác nhau có thể tạo ra diện mạo màu giống hệt nhau).

Do đó, nếu điều kiện quan sát khác nhau thì mô hình màu XYZ sẽ không chính xác và cần có mô hình sự xuất hiện màu sắc để mô hình hóa nhận thức của con người về màu sắc.

Thách thức cơ bản đối với bất kỳ mô hình sự xuất hiện màu sắc nào là khả năng nhận biết màu sắc của con người không hoạt động theo ba giá trị kích thích XYZ mà dựa trên các thuộc tính về màu sắc (độ sáng của môi trường – brightness, màu nguyên thủy – hue, độ sáng của màu sắc – lightness, độ tươi của màu sắc – saturation, chroma và colorfulness). Vì vậy, bất kỳ mô hình hiển thị màu nào cũng cần cung cấp các phép biến đổi (yếu tố trong điều kiện xem) từ giá trị ba kích thích XYZ sang các thông số hiển thị này (ít nhất là màu sắc, độ sáng và sắc độ).

Màu nguyên thủy (Hue/H)

Màu nguyên thủy (Hue) là một trong những thuộc tính chính của màu để chỉ độ tinh khiết của màu sắc, được định nghĩa là màu chưa được hòa trộn với bất kỳ màu nào khác. Về mặt kỹ thuật, trong mô hình CIECAM02 là “mức độ một màu có thể được phân biệt là giống hoặc khác với các màu được mô tả là màu đỏ, cam, vàng, xanh lá cây, xanh da trời, tím trong bánh xe màu sắc. Màu đen và màu trắng không có sắc tố màu nên không được coi là màu nguyên thủy.

Trong hội họa, Hue có giá trị là 12 màu từ bậc 1 đến bậc 3 trên bánh xe màu sắc. Trong các phần mềm thiết kế đồ họa và chỉnh sửa ảnh kỹ thuật số, Hue có 360 giá trị tương ứng tọa độ của 360 màu trong bánh xe màu sắc; giá trị của hue tùy thuộc vào phần mềm mà bạn sử dụng, có thể là từ 1 đến 360 hoặc từ -180 đến +180.

Trong các phần mềm chỉnh sửa ảnh, khi thêm màu nguyên thủy (HUE – H) vào một tác phẩm kỹ thuật số – tác phẩm sẽ bị phủ một lớp màu nguyên thủy mà bạn chọn; và màu sắc các chi tiết trong tác phẩm của bạn sẽ bị hòa trộn với màu nguyên thủy.

Độ sáng của màu sắc (Lightness/L)

Khi hòa trộn màu nguyên thủy với màu đen thì chúng sẽ tối dần lại và khi hòa trộn với màu trắng thì chúng sẽ sáng dần lên. Màu được tạo ra khi pha màu nguyên thủy với màu đen được gọi là màu Shade, màu được tạo ra khi pha màu nguyên thủy với màu trắng được gọi là màu Tint hoặc Pastel. Khi thêmbớt độ sáng (Lightness) đồng nghĩa với việc chúng ta đang thêm màu trắngmàu đen vào màu được chọn.

Trong các phần mềm chỉnh sửa ảnh và thiết kế đồ họa, khi tăng dần Độ sáng (Lightness) đến cực hạn thì màu của phần được chọn sẽ dần sáng lên và dần biến thành màu trắng; và khi giảm dần Độ sáng (Lightness) đến cực hạn thì màu của tác phẩm sẽ tối dần và dần biến thành màu đen.

Độ tươi của màu sắc (Saturation/S)

Khi pha màu đen với màu trắng chúng ta sẽ thu được màu xám, khi pha màu xám với màu nguyên thủy thì sẽ tạo ra một màu mới kém rực rỡ hơn màu nguyên thủy, càng pha nhiều màu xám thì màu mới sẽ càng tái lại và dần biến thành màu xám. Màu sắc được tạo ra bằng cách hòa trộn màu nguyên thủy và màu xám được gọi là màu Tone.

Khi thêm hoặc bớt độ tươi (Saturation) đồng nghĩa với việc chúng ta đang bỏ bớt hoặc thêm vào màu xám cho màu được chọn. Độ tươi tối đa của một màu tương ứng với màu nguyên thủy và độ tươi tối thiểu của một màu tương ứng với màu xám.

Thuật ngữ Colorfulnesschroma và saturation là các thuộc tính cảm nhận màu sắc liên quan đến cường độ màu sắc. Theo định nghĩa chính thức của Ủy ban Quốc tế về Chiếu sáng (CIE), chúng lần lượt mô tả ba khía cạnh khác nhau của cường độ màu, nhưng các thuật ngữ này thường được sử dụng một cách lỏng lẻo và có thể thay thế cho nhau trong và không được phân biệt rõ ràng. Ý nghĩa chính xác của các thuật ngữ này tùy theo chức năng khác mà chúng phụ thuộc vào.

Độ sáng môi trường (Brightness/B)

Sọc màu đỏ cho thấy sự thay đổi của màu sắc trong hai môi trường có cường độ sáng khác nhau. Rõ ràng, cùng một vật thể, cùng độ tươi nhưng vật thể trong môi trường có cường độ anh sáng cao hơn trông có vẻ rõ ràng hơn.

Mọi người thường rất dễ nhầm lẫn giữa độ sáng của màu sắc (Lightness) và độ sáng của môi trường (Brightness) vì nó có hiệu ứng khá tương đồng. Sự khác biệt ở đây là khi thay đổi độ sáng của màu sắc (Lightness) thì bạn đang chỉ phủ một lớp màu trắng hoặc đen lên vùng được chọn và sẽ tạo ra một màu mới mờ nhạt hơn so với màu ban đầu. Còn khi bạn thay đổi độ sáng của môi trường (Brightness), bạn sẽ không làm thay đổi màu sắc ban đầu mà chỉ làm thay đổi lượng ánh sáng phản chiếu/cảm nhận về môi trường của người quan sát về màu sắc.

Màu sắc và cảm xúc

Bản chất của màu sắc là màu sắc và chúng chẳng có liên hệ gì với cảm xúc. Sở dĩ chúng ta nảy sinh những cảm xúc nhất định với một loại màu sắc nào đó là do những ấn tượng từ những trải nghiệm của chúng ta trong quá khứ. Trải nghiệm của chúng ta lại liên quan đến phong tục, tập quán của từng địa phương, khu vực. Tuy nhiên, chúng ta cũng có một số cảm nhận chung về một số màu sắc từ những cảm nhận chung.

Màu ấm

Nguồn gốc của màu ấm có lẽ bắt nguồn từ ánh nắng mặt trời với màu vàng nhạt, màu của các loại hoa trái với khả năng thu hút sự chú ý của các loài động vật; và cả màu sắc sặc sỡ của những sinh vật có độc để cánh báo những đối thủ trong tự nhiên. Vì vậy, màu ấm thường được liên tưởng đến năng lượng, cơ hội, sự vui tươi, hấp dẫn và cả những dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm.

Màu mát

Nguồn gốc của màu mát có lẽ bắt nguồn của từ màu của rừng, bầu trời, nguồn nước, lá cây mùa thu. Vì vậy màu này thường được liên tưởng đến sự an toàn, bình yên, thư giãn, mát mẻ, thoải mái, dễ chịu.

Trung tính

Màu trung tính là màu đen, màu trắng; và màu được tạo ra bằng cách hòa trộn giữa màu đen và màu trắng là màu xám. Một màu có độ tươi gần sát màu xám cũng được coi là màu trung tính. Màu kem, nâu được xếp vào màu trung tính ấm; màu xám, ghi, trắng được xếp vào màu trunh tính mát.

Trong thiết kế

Trong thiết kế, người ta đã tạo thành một văn hóa sửa dụng màu sắc để truyền đạt suy nghĩ, khơi gợi những cảm xúc nhất định:

  • Màu đỏ: quyền lực, đam mê, tình yêu, sự thù địch, bạo lực, nguy hiểm.
  • Màu vàng: hạnh phúc, lạc quan, ánh sáng, hào quang, thành công, sự chú ý.
  • Màu hồng: nữ tính, lãng mạn, tình yêu, hoa cỏ, nhạy cảm.
  • Màu cam: năng lượng, sáng tạo, thành công, hạnh phúc.
  • Màu tím: hoàng gia, bí ẩn, ma thuật, siêu nhiên, sáng tạo.
  • Màu nâu: tự nhiên, hữu cơ, đơn giản, ổn định, thoải mái, bền bỉ.
  • Màu xanh da trời: hòa bình, tin tưởng, chung thủy, buồn bã, sạch sẽ, giao tiếp.
  • Màu xanh lá cây: thiên nhiên, sức khỏe, hòa bình, sức sống.
  • Màu xám: trầm cảm, an ninh, thực tế, khiêm tốn, đáng tin cậy.
  • Màu đen: bóng tối, an ninh, tà ác, khổ hạnh, trang trọng, tình dục.

Phương pháp phối màu

Một tác phẩm đẹp phải có sự phối hợp tinh tế về màu sắc. Trên thực tế lại không có bất kỳ một công thức phối màu nào để chắc chắn tạo ra một tác phẩm có màu sắc đẹp, nhưng dựa trên kinh nghiệm của những nghệ sĩ đi trước, sau đây là một số kỹ thuật phối màu phổ biến:

Bộ ba (Triadic)

Kiểu phối màu này được tạo nên bởi 3 màu nằm tại 3 góc khác nhau trên bánh xe màu, tạo thành một hình tam giác đều. Ba màu này kết hợp, bổ sung cho nhau và tạo nên sự cân bằng cho thiết kế.

Nhược điểm của phương pháp này là ba màu quá cân bằng nên rất khó để tạo ra điểm nhân trong thiết kế. Nhưng rất nhiều nhà thiết kế lại rất thích kiểu phối màu này vì nó tạo được sự hài hòa, cân bằng cho thị giác.

Liền kề (Analogus)

Phối màu liền kề (Analogous) là cách phối sử dụng các màu gần nhau (thường là 3 màu) trên bánh xe màu sắc. Phương pháp phối màu này phong phú về màu sắc hơn so với phương pháp phối một màu. Chính vì vậy, khi sử dụng nó, bạn có thể phân biệt dễ dàng hơn những nội dung khác nhau trên một sản phẩm. 

Với cách phối màu liền kề, bạn sẽ phải lựa chọn một màu chủ đạo. Đây là màu được sử dụng nhiều nhất và các màu khác phải có sự tương tác tốt với màu chủ đạo. Sau đó, kết hợp với những màu sắc nằm liền kề nó trên bánh xe màu sắc. Các màu sắc có vị trí gần nhau có tính tương đồng bổ trợ cho nhau. Việc bố trí hợp lý sẽ tạo ra dòng chảy tự nhiên của màu sắc.

Một màu (Monochromatic)

Phối màu một màu là phương pháp sử dụng một màu chủ đạo hoặc dùng nhiều sắc độ khác nhau của cùng một màu. Kiểu phối màu này không quá cầu kỳ và tạo cho người nhìn cảm giác dễ chịu. Tuy nhiên, đôi lúc bạn sẽ gặp rắc rối khi muốn tạo điểm nhấn với một số chi tiết trong sản phẩm vì sự đơn điệu của kiểu phối màu này.

Phối màu đơn sắc thường được sử dụng nhiều trong những thiết kế mang phong cách tối giản. Nó giúp người xem không bị xao nhãng vào quá nhiều vào các yếu tố khác mà tập trung hoàn toàn vào yếu tố chính. 

Tương phản (Complementary)

Khi muốn tạo ra sự nổi bật và bắt mắt cho thiết kế thì cách đơn giản nhất là lựa chọn phương pháp phối màu tương phản, đó chính là những cặp màu nằm đối diện nhau trong bánh xe màu sắc. Các chi tiết quan trọng sẽ trở nên ấn tượng hơn nhờ sử dụng các cặp màu đối xứng. 

Khi sử dụng kiểu phối này, bạn nên lựa chọn một màu chủ đạo. Tiếp theo, những màu đối xứng với nó sẽ được chọn làm màu phụ. Lưu ý nho nhỏ, không nên sử dụng những màu có sắc độ nhạt (desaturated colors), vì những màu như vậy sẽ làm mất đi tính tương phản cao giữa các cặp màu với nhau.

Tam giác cân (Split Complementary)

Phương pháp phối màu này sử dụng 3 màu ở 3 góc khác nhau trên vòng tròn màu để tạo nên một hình tam giác cân. Để có được cách phối màu này, bạn phải kết hợp một màu chính và hai màu liền kề với màu tương phản của nó. Ví dụ: bạn có màu cam, bạn sẽ kết hợp nó với xanh lam-tím để có được một màu bổ túc xen kẽ.

Phương pháp phối màu tam giác cân giúp cho các nhà thiết kế có cơ hội khám phá ra các cặp màu lạ, độc đáo cho thiết kế của mình. Ngày nay, phương pháp phối màu này được ứng dụng khá rộng rãi.

Bộ bốn (Tetradic/Double – Complementary)

Đây có thể được coi là phương pháp phối màu khó nhất. Bù lại, bạn sẽ có được những cặp màu tuyệt vời nếu chịu khó bỏ thời gian, công sức để chọn lựa màu sắc và áp dụng kiểu phối màu này.

Phối màu theo nguyên tắc bổ túc bộ bốn được hình thành với 2 cặp màu bổ túc trực tiếp. Điểm mạnh cũng là điểm khác biệt của kiểu phối màu này là sự đối lập và bổ sung giữa 2 cặp màu. Kiểu phối màu này sẽ hoạt động tốt nhất khi bạn chọn một trong bốn màu làm màu chủ đạo và sử dụng ba màu còn lại làm màu nhấn. Bên cạnh đó, hãy chú ý cân bằng giữa gam màu nóng và gam màu lạnh.

Viễn Zu
Viễn Zuhttps://vienzu.com/
Viễn Zu không phải là tên thật của tôi, không phải tôi có điều gì giấu giếm mà chỉ là do tôi muốn người đọc tập trung vào nội dung của các bài viết.

Bài Liên Quan

Bình luận